Hoa Nở
Muộn
Vinh Lan
Một người đàn ông độ vừa
hơn năm mươi tuổi đã đi tới đi
lui không biết bao nhiêu lần trên con đường quanh co,
có góc có cạnh, được chấp nối nhau bằng
những miếng ván dài ngắn đủ khổ trong cái
xóm nhỏ nằm gie ra bờ sông ở bến Tắm Ngựa.
Bà già ngồi trước bệ cửa sát đường,
cố tình lấy ánh sáng mặt trời chiếu xiên qua
khoảng trống giữa hai nhà ngang đó để lượm
sạn trong cái rổ gạo, lấy làm lạ vì cái nhìn dáo
dác và vẻ mặt buồn rầu của người
đàn ông, nên đợi đến khi người ấy
đi qua lần nữa bèn cất tiếng hỏi:
-
Chú
muốn kiếm ai vậy?
Người
đàn ông mừng rỡ được gợi chuyện,
đứng lại ngay, rồi rụt rè hỏi bà già
bằng một giọng hơi lo lắng:
-
Tôi
muốn kiếm nhà cô Nga. Cổ ở đâu khoảng
nầy hồi mười năm trước, mà sao bây
giờ thấy lạ quắc tôi tìm hoài không ra.
-
Ờ,
ở đây thay đổi nhiều lắm. Con Nga, tôi
biết mà. Nó dọn nhà đi lâu rồi. Cũng chừng
mười năm rồi đó.
-
Dì có
biết cô Nga đi đâu không? Mà tại sao cổ dọn
đi vậy?
-
Không
biết. Tự nhiên nó đi, không nói cho ai hay hết.
Chú Tánh, tên người đàn ông, muốn
về đây để kiếm người đàn bà đã
cứu chú hồi mười năm về trước.
Hồi đó chú muốn vượt biên. Cái xóm nhỏ có nhà
cửa chen chúc lộn xộn, không ngay hàng thẳng lối
với những con đường bắc ván ngoằn ngoèo
ven bờ sông, là trạm gặp để dẫn người
lén đi đến chỗ hẹn bằng đường
nước. Rủi ro hôm đó xóm bị kiểm tra nên chú
bị hạch hỏi lý lịch đang lúc ngồi trong
một cái quán lá gần bến đò. Trong lúc chú lúng túng
không tìm ra câu trả lời cho mạch lạc về
vấn đề hộ khẩu thì bỗng có tiếng
một người đàn bà:
-
Ổng
là ông xã của tôi đó.
Chú ngạc nhiên nhưng không dám day nhìn
về hướng có tiếng nói mà vẫn cúi gầm
mặt xuống đất.
-
Sao tôi
không thấy ổng ở đây?
Người đàn bà nói bằng một
giọng buồn buồn như muốn khóc vì câu hỏi
gợi đau khổ:
-
Ổng
theo vợ bé bỏ tôi cả chục năm nay. Không hiểu
sao bữa nay về đây. Hồi sáng lảng vảng
trước nhà mà tôi làm lơ nên ổng mắc cở
rồi đi bậy.
-
Ổng
có hộ khẩu ở nhà chị không?
-
Không.
Tôi giận ổng nên xin bôi tên ổng lâu rồi. Thiệt
tình tôi đâu có tính ổng trở về. Mà trở về
để làm chi nữa? Tôi già rồi mà!
Mấy tiếng cuối cùng chị hạ
thấp giọng, nói lửng lơ, nửa như hờn
dỗi nửa như tự than thân trách phận, mà cũng
không thèm nhìn mặt ông chồng bội bạc làm anh cán
bộ bật cười. Anh bỏ chú qua một bên,
tới hỏi người khác.
-
Thôi,
đi về! Hay là muốn đi luôn nữa?
Nghe câu hỏi trỏng trong ý nghĩa
giải thoát đó chú Tánh cảm động vô cùng, chú
vội vàng đứng dậy, đáp với giọng xuôi
xị:
-
Về
chớ còn đi đâu nữa.
Vô tới nhà rồi chú Tánh mới dám nhìn
kỹ người đã cứu mình. Chú đoán chừng tuổi
chị ba mươi lăm, đầu bới tóc, mặc áo
bà ba màu xám lợt, dáng dấp hơi quê mùa trong cái áo may
rộng hơn khổ người nhỏ nhắn của
chị. Chị có nhan sắc không đáng được chú
ý lắm, không có nét nào để gọi là đẹp, tuy
vậy cũng không thể bảo là xấu, duy nụ
cười - chị mỉm cười mời chú vào nhà - rất
hiền hậu, có vẻ như lúc nào cũng sẵn sàng tha
thứ làm chú Tánh thấy có cảm tình ngay. Chú ngồi bên
cái bàn dài để ở giữa nhà, ngại ngần
một chút rồi khen bằng câu hỏi:
-
Sao cô
lanh trí quá vậy?
-
Cái
cảnh xét hỏi nầy tôi gặp hoài. Thấy anh
lọng cọng tôi biết liền là anh mới đi
lần đầu. May cho anh là anh cán bộ nầy dễ
dãi, chớ nếu không thì….
Chú Tánh thắc mắc:
-
Tại
sao cô muốn cứu tôi?
Chị cười, hơi ngập ngừng,
rồi nói nho nhỏ:
-
Không
biết. Tự nhiên làm vậy. Có lẽ…tại vì chồng
tôi đã bỏ tôi theo vợ bé thiệt. Mà…anh không giống
chồng tôi, mặt anh hiền hơn nhiều…..Chắc
tại vậy.
-
Cho tôi
biết tên cô được không?
-
Ðược
chớ. Tôi tên Nga.
Chú Tánh làm chồng hờ chị Nga vài hôm
rồi lại đóng vai ông chồng có chứng “ngựa
quen đường cũ”, tiếp tục chạy theo
mấy bóng dáng đàn bà khác. Vài tháng sau chú trở lại,
ở tạm nhà chị Nga một tuần để
đợi kỳ lên đường kế tiếp.
Nhưng rồi kế hoạch cũng lại bể. Chú
thất vọng không thiết đến bữa cơm
chiều chị Nga đã cố tình nấu nướng
thịnh soạn để đãi từ biệt chú.
Buổi tối, chú buồn bã ra ngồi ngoài sàn
nước, thòng chân đong đưa trên mặt
nước vừa dâng lên đúng tầm bàn chân chú. Trời
tối âm u. Bên kia cù lao Rồng chỉ có một màu đen
thẫm. Chú Tánh thở dài, càng âu sầu khi thấy cảnh
vật thảm não không kém lòng mình.
Chú nhớ hai mươi năm về
trước, vợ chú mượn cớ đi chợ
để trốn nhà theo chú. Hành trang của cô ấy
chỉ là bộ quần áo mặc trong người. Còn
sự nghiệp của chú chỉ là cái căn nhà nửa
lợp lá nửa lợp tôn ở khu nghèo Gia Ðịnh cùng
với chiếc xe đạp làm phương tiện di
chuyển. Lúc đó chú đang làm thư ký cho một nhà in
ở Sàigòn, lương bổng đủ để
khỏi bị đói. Hành động “trao thân gởi
phận” đầy tin tưởng của vợ chú đã
là tiếng nói của một tình yêu say đắm không màng
dư luận, không sợ hãi trước một
tương lai không có gì là sáng sủa, đã làm chú xúc
động vô cùng. Chú thầm hứa sẽ bảo vệ
gìn giữ tình yêu của hai người đến trọn
đời.
Chú Tánh đang miên man nghĩ ngợi thì có
tiếng động sau lưng. Chị Nga nhẹ nhàng
đến ngồi kế bên chú. Chị cũng nhìn qua bên
kia cù lao, hỏi nhỏ:
-
Anh
buồn lắm phải không?
Chú Tánh không đáp, chỉ gật
đầu. Chị Nga tìm cách an ủi:
-
Thôi
thì anh rán đợi lần khác. Tôi biết có người
bị nghẹn cả chục lần, có người còn
bị ngồi tù nữa.
Chú lắc đầu:
-
Không
phải tôi buồn vì đi không được mà còn lý do
khác. Ðúng hơn là tôi buồn vì tôi phải tính hoài chuyện
ra đi.
Chị Nga day qua nhìn chú, ngạc nhiên:
-
Tại
sao vậy?
Chú Tánh cúi đầu thở ra. Chú im
lặng, suy nghĩ không biết có nên tỏ tâm sự hay
không. Giây lâu như ngại ngùng vì sự im lặng gây
căng thẳng cái không khí thân tình nên chú nói:
-
Từ
khoảng mười năm trở lại đây, có lẽ
đời sống xáo trộn của thành phố đã làm
vợ tôi đổi tánh. Cô ấy không an phận như
trước mà chỉ nhìn sang hàng xóm, nhất là những nhà
có thân nhân ở nước ngoài. Tôi bị nghe thường
xuyên câu hỏi “Tại sao mình không có…?” mà khả năng tôi
không thể trả lời được. Cái khả
năng của một người suốt ngày phải quây
như cái chong chóng để xoay tiền thì không thể
giải quyết thỏa đáng những vấn đề
như máy karaôkê, máy điều hoà không khí….
Chú Tánh lại nín im như cố dằn
sự cay đắng đang dâng lên theo lời kể,
rồi lại trầm trầm nói tiếp:
-
Tôi
cũng có một đứa con đã đến Mỹ. Nó
mới sang đó nên nếp sống chưa vững vàng.
Vợ tôi sốt ruột, muốn chắc chắn hơn
nên đề nghị tôi trốn đi. Thành thật mà nói,
nếu liều mạng sống để kinh tế gia
đình dồi dào ở tầm mức xa xỉ thì tôi không
có một quyết tâm thật sự. Nhưng để
không còn nghe bên tai những than van quá đáng, những phiền
trách vô lý, những đòi hỏi ngoài tầm tay thì tôi
lại quyết định ra đi…
Nghe xong tâm sự của chú Tánh, chị Nga
cũng bùi ngùi tỏ thật về thân phận cô
đơn của mình. Chồng chị làm nghề chạy
xe đò, cái nghề đã cho anh mỗi bến, mỗi
trạm một người tình. Anh đã được
các bà vợ bạn hàng của các bến trạm săn sóc,
chiều chuộng đến mức độ vợ nhà
thành thừa thãi. Tuy anh biết họ có mục đích
vụ lợi cho vấn đề vận chuyển hàng hoá
nhưng anh thấy mình chẳng mất mát gì, nên phó mặc
cuộc sống bềnh bồng trong những bàn tay phụ
nữ. Rồi cuối cùng chẳng hiểu sao anh không
trở về nữa.
Nghe giọng nói đằm thắm rất
buồn của chị Nga chú Tánh cũng thấy nao nao trong
lòng. Tự nhiên chú đưa tay qua ôm vai chị siết nhè
nhẹ.
Trên đường về chú Tánh ghé vào bãi
bán thức ăn ở một ngả tư không xa bến
Tắm Ngựa bao nhiêu để ăn hủ tíếu. Cái
bãi này đã có từ rất lâu rồi. Cứ đến
bốn giờ chiều là người ta dọn hàng ra
khoảng nền gạch rộng chừng năm
thước nằm trước dãy tiệm đủ
loại chạy dài hằng mấy mươi thước.
Có đủ hình thức bán thức ăn, từ những
xe đẩy có dạng gian hàng hẵn hòi với cả bàn
ghế cho khách ngồi ăn như xe phở, xe hủ tíếu,
xe bán nước sinh tố, chè sâm bổ lượng
đến những gánh hàng ngồi dưới đất
như tàu hủ, chè bắp, cơm rượu, bún ốc
hay đơn sơ như những người chỉ có
cái thúng, cái rổ để bán trái cây theo mùa, bánh tự làm
hay đồ chơi rẻ tiền cho trẻ con nghèo.
Trời hãy còn sớm nên chú Tánh chưa
muốn vội trở về Sàigòn. Nỗi buồn không gặp
chị Nga để từ giã trước khi chú vĩnh
viễn rời quê hương xứ sở vẫn còn
đè nặng trong lòng nên chú trông có vẻ uể oải
không muốn cất bước. Sau hơn mười năm lo lắng, con chú đã hoàn
tất bổn phận mẹ nó giao phó. Chiều mai là
vợ chồng chú và đứa con gái còn lại, mà anh nó
cũng cẩn thận tìm cho một vị hôn phu với
đầy đủ giấy tờ hợp pháp, sẽ lên
máy bay sang Mỹ để đoàn tụ gia đình . Trong
những ngày cuối cùng, càng thấy vợ vui vẻ náo
nức bao nhiêu thì chú lại càng nhớ đến hai
lần đi hụt và người đàn bà cứu chú
bấy nhiêu. Thời gian qua chú đã bỏ cuộc
chuyện vượt biên mà dồn sức vào sự tranh
đấu với mưu sinh. Chú đã thay đổi
nhiều chỗ làm, thử nhiều công việc khác nhau,
xoay xở đủ phương cách để cung cấp
gia đình một đời sống vật chất
tạm gọi là không “xấu mặt với hàng xóm” như
yêu cầu của thím. Nghề cuối cùng của chú là
chạy xe ôm, cái nghề có tên như đụng chạm
luân lý nhưng thật ra rất đứng đắn
đàng hoàng. Chú không cực khổ thân xác, nhưng dãi
dầu mưa nắng, và giờ khắc làm nghỉ rất
bất thường. Dù sao thì nó đã giúp chú giải
quyết được vấn đề cơm áo. Chú rời nhà từ sáng sớm,
đến chiều tối mới về. Buổi trưa, nếu
không có khách đi, chú ghé một quán nào đó nghỉ
tạm. Chú mượn cớ phải thường xuyên
kiếm mối mà tránh né sự gần gũi với thím. Ðó
là điều đã khiến chú đau lòng hơn cả
nỗi vất vả với miếng ăn. Thím lo cơm
nước cho chú như một thói quen, một hành
động phản xạ không cần suy nghĩ. Sự
chăm sóc thật tình tứ của những năm còn
trẻ hoàn toàn không còn nữa. Thím chẳng quan tâm tới
những buồn vui của chú, coi như nó không liên can gì
với mình, cũng chẳng để ý tới những
cử chỉ tế nhị chú dành cho thím mà hồi nào
đó thím đã sung sướng tiếp nhận. Giờ
đây, đôi lúc thím còn thấy bực bội vì chú chu
đáo một cách không cần thiết. Thím bận bịu
nhiều với những phác họa mới cho tương
lai ở một chân trời khác mà thím nghĩ rằng nó
sẽ huy hoàng lắm. Chú đành chấp nhận nhịp
sống đơn điệu buồn tẻ của hai
người chỉ còn gần bên nhau trong danh nghĩa
vợ chồng…
Càng nhớ đến tình trạng gia
đình chú càng buồn, càng tiếc. Phải chi sự
lợt lạt đó bắt nguồn từ sự trầm
lặng theo tuổi tác hay từ sự lo lắng
đổ dồn vào con cái thì chắc chú thương
vợ nhiều hơn nữa. Chú có cảm tưởng
sự chai lì hao mòn của tình cảm có nguyên nhân là thái
độ buông trôi theo thời gian, là những ham muốn
bất chợt và những tham vọng mới đến. Hạnh
phúc có thật với “tình yêu trong mái lều tranh” như
được tả trong tiểu thuyết của
những năm đầu tiên trong đời sống
vợ chồng là một hãnh diện của hai
người. Thế mà bỗng chốc đời sống
xã hội thay đổi đã mang tâm hồn con
người đi theo một cách đột ngột. Tác
động của ngoại cảnh ngoại vật
mạnh mẽ thế hay tại vì cái bản ngã thứ hai
của con người, trong bình yên thì ngủ im dưới
tầng sâu thẳm của tiềm thức, đã phải
đợi đúng lúc đúng cơ hội mới trỗi dậy?
Chú không giải thích được. Theo thời gian chú không muốn
nghĩ ngợi nữa mà chỉ còn ôm ấp niềm đau
không nói được về sự biến đổi tâm
tánh của người mình đã từng rất yêu
thương.
Thời gian còn ở trong khung cảnh sống
quen thuộc không lâu nữa làm chú đâm ra tư lự, cứ
hồi tưởng những kỷ niệm xa xưa, quanh
quẩn trong đầu chú nhiều nhất là hai chuyến
đi không thành và người đàn bà, tuy chú có cảm
tưởng bị nụ cười ràng buộc ngay khi
mới gặp, mà lại đã quên mất vì sinh kế và tâm
sự buồn. Chú thấy ân hận về sự bạc
bẻo của mình nên chợt nảy ra ý muốn đi
thăm người ơn để gọi là trả
lễ một chút tình nghĩa trong giờ phút cuối cùng.
-
Bác
ơi, bác mua giùm con một lon đậu phộng nấu
đi.
Chú day lại nhìn một bé gái trạc chín
mười tuổi, có cái chùm tóc sau ót cột nhổng cao
như đuôi gà, trước trán để lòa xòa một
màn tóc mỏng phủ tới chân mày. Ðôi mắt bé tròn, to, có
cái nhìn thật ngây thơ, trong sáng. Chú Tánh tự nhiên
thấy thương đôi mắt ấy. Chú mỉm
cười hỏi:
-
Con bán
bao nhiêu một lon?
-
Dạ
năm trăm đồng.
-
Bán cho
bác một lon đi.
Bé cười thật tươi:
-
Bác
ơi, bữa nay sao con hên quá. Mời một cái là bác mua
liền.
Chú Tánh thân mật hỏi:
-
Bộ
khó bán lắm sao?
-
Dạ.
Con phải năn nỉ nhiều lắm mà lâu lâu mới có
người mua. Con bị
đuổi đi hoài.
Chú Tánh thấy bé có vẻ thông minh và ăn
nói lễ độ nên cũng muốn trò chuyện với
nó cho đỡ buồn.
-
Con
đi bán như vầy suốt ngày hay sao?
-
Dạ
không. Con chỉ đi bán buổi chiều thôi. Con phải
đi học nữa chớ. Mà hôm nào có bài học nhiều
má không cho đi.
-
Thế
con học khá không?
-
Con là
học sinh tiên tiến đó bác ơi.
-
Giỏi
quá vậy. Chắc ba má con cưng con lắm phải không?
-
Dạ.
Mà con có má không thôi hè. Ba không có ở nhà.
Chú Tánh nhìn bé dò xét. Ðột nhiên chú nghĩ
đến những ông cha vượt biển mang hy
vọng giải quyết tình cảnh nghèo đói khó khăn.
Bé ngồi lên một cái ghế cạnh chú, có vẻ như
quyến luyến ông khách dễ tánh. Nó tâm sự:
-
Con
không biết mặt ba con. Má con nói ba con theo vợ bé. Bác
biết vợ bé ra sao không? Bộ bả đẹp lắm
hả? Con hỏi mà má không chịu nói.
Chú Tánh bật cười nghe mấy câu
hỏi ngây thơ của bé.
-
Ừ.
Thường thì vợ bé đẹp nên người ta mê. Có
khi mấy bà vợ bé không đẹp nhưng mấy bả
chăm sóc các ông khéo léo hơn chính vợ họ nên họ
quên về nhà. Nói vậy chớ bác cũng không biết rõ,
tại vì bác đâu có vợ bé.
Nói xong chú cười, xoa đầu bé. Bé
như sung sướng được chú vuốt ve. Nó kéo
ghế ngồi sát chú thêm chút nữa.
-
Nãy
giờ bác quên hỏi, con tên gì?
-
Dạ
con tên Duyên.
-
À, con
nói chuyện hoài không đi bán, làm sao con có tiền đem
về cho má con?
-
Nói
chuyện với bác vui quá nên con quên. Mà cũng không sao. Má
không rầy đâu, tại không phải ngày nào con cũng bán
hết rổ đậu nầy.
-
Con
đong cho bác một lon nữa đi.
Bé Duyên hí hửng đong lon đậu
nấu đổ vào cái bao bằng giấy báo xếp dán hai
mí chéo vào nhau giống như hình cái quặng.
-
Bác
biết không, con được hai ngàn đồng rồi
đó. Mai bác có lại đây ăn hủ tíếu nữa
không?
-
Không.
Lát nữa bác sẽ về Sàigòn.
Duyên trố mắt:
-
Ơ,
vậy bác không phải ở Mỹ Tho à?
-
Không.
Chú Tánh vừa đáp vừa coi đồng
hồ tay. Trời đã tối nên chú phải đưa tay
lên gần cây đèn ống gắn sát trên vành cái trần xe
hủ tíếu để đọc số.
-
Trễ
rồi. Thôi bác đi. Bác tính về sớm hơn mà nói
chuyện với con rồi bác quên mất thì giờ.
-
Chết
rồi. Con cũng phải về.
-
Nhà con
có xa không? Con dám đi một mình à?
-
Dạ
không xa. Thường thì con về trước khi trời
tối. Bữa nay tối hồi nào con không hay. Chắc má
trông lắm.
Chú Tánh nghe bé Duyên nói vậy thì đâm ra ái
ngại.
-
Thôi
để bác đưa con về nhà rồi bác đi
cũng không muộn.
Bé Duyên reo lên:
-
Thiệt
hả bác? Có bác má không rầy con ham chơi quên về. Thôi
mình đi bác.
Bé Duyên có vẻ vui lắm được
làm quen với chú Tánh, lại được chú đưa
về nữa, nên nó vừa đi vừa nói chuyện không
dứt. Nó kể đủ thứ về trường
học, về mấy đứa bạn nhỏ cũng
đi bán dạo như nó ở ngã tư. Chú Tánh cứ im
lặng nghe, thỉnh thoảng cười theo nó. Chú
thấy trong lòng nhẹ nhàng đôi chút. Từ hồi
gặp bé Duyên chú không còn nhớ đến nỗi buồn
không tìm được chị Nga mà cũng quên luôn hoàn
cảnh gia đình của chú, nên chú không bận tâm lắm
về chuyện trở về Sàigòn sớm hay muộn.
Bé dẫn chú đi vào một
đường hẻm dọc theo bức tường
căn phố cuối của dãy nhà gạch nằm trên
đường cái, rồi quanh vào dãy nhà ván nằm song song
đằng sau. Tới căn thứ hai nó dừng lại,
chỉ vào:
-
Bác
ơi, nhà con đây nè. Má ơi má, con về rồi.
Từ trong buồng có tiếng người
đàn bà vọng ra:
-
Duyên
đó hả con? Sao con về trễ vậy, làm má lo quá
chừng. Má đang thay áo đặng đi đón con đó.
-
Má
ơi, có bác nầy dẫn con về. Má đâu cần
phải lo.
Nghe con nói thế mẹ Duyên lật
đật đi ra, rồi đứng nhìn sửng chú Tánh.
Chú Tánh cũng bàng hoàng nhìn người đàn bà mới
xuất hiện dưới ánh đèn.
-
Cô Nga!
Chị Nga vẫn đứng yên không cử
động mà nước mắt rưng rưng.
-
Anh
Tánh! Tôi đâu ngờ còn gặp lại anh.
Chú Tánh bùi ngùi nói, giọng không dấu
được sự vui mừng:
-
Tôi
đi về xóm cũ tìm cô suốt ngày nay. Ðịnh ghé ngã
tư ăn lót lòng rồi trở về Sàigòn, bất
ngờ gặp bé Duyên. Tôi đâu dè nó là con của cô.
Chị Nga đã bình tĩnh lại, chị
kéo ghế mời chú Tánh ngồi. Chị day qua Duyên, dịu
dàng bảo:
-
Con
đi tắm đi. Má đã nấu nước sẵn cho
con rồi.
Bé Duyên “dạ” rồi đi ra nhà sau. Nó không
hiểu sao mẹ nó và chú Tánh quen nhau, nhưng thấy
mẹ như muốn khóc khi gặp chú Tánh nên nó không dám
hỏi mà cũng không dám đứng lại đó. Chú Tánh
trầm trồ:
-
Cô có
đứa con dễ thương quá. Thấy nó rồi nghe
nó nói chuyện tự nhiên tôi thương liền.
Chị Nga cúi đầu, hơi nhếch mép
cười buồn. Chị cũng ngồi xuống ngang
chú, im lặng. Chú cảm động, trìu mến nhìn
chị Nga. Ngoài vài nếp nhăn ở đuôi mắt và
dáng hơi gầy đi chị vẫn còn giữ phong cách
như trước, điềm đạm, lặng lẽ
với nụ cười đầy nét khoan thứ. Chú Tánh
chợt thấy mình đang cần nụ cười
ấy để xoa dịu sự ray rứt vì thái
độ phụ ơn bội nghĩa của mình.
-
Cô
dọn đi bao lâu rồi? Tại sao cô dời nhà vậy?
Chị Nga do dự không muốn đáp.
Chị có vẻ suy nghĩ nhiều làm chú Tánh thắc
mắc. Chú đoán là phải có uẩn khúc gì để
chị Nga không thể trả lời mấy câu hỏi
tầm thường như vậy. Chị Nga đắn
đo mãi, rồi cuối cùng chị nói, giọng run run:
-
Tôi
dọn đi từ mười năm nay. Lý do là vì ….tôi mang
thai con Duyên. Tôi biết điều đó sau khi anh về
Sàigòn hai tháng. Tôi có linh cảm là anh không bao giờ trở
lại nữa.
Chú Tánh tưởng như trái tim mình sắp
tung ra khỏi lồng ngực. Chú quay hẳn về phía
chị Nga, đưa tay ra nắm lấy hai bàn tay của
chị đang để trên bàn. Chú không nói được
lời nào, cứ nhìn chị mà nước mắt chực
trào ra. Trong lúc đó nước mắt chị Nga đã tuôn
đầm đìa. Cả chú Tánh lẫn chị Nga
đều không lường được kết quả
của đêm tâm tình mà sự dâng tràn cảm xúc của hai
kẻ cùng mang nỗi khổ đã đưa đến
hành động an ủi nhau bằng ân ái.
-
Tôi có
lỗi với em nhiều quá. Chẳng những vô ơn
bạc nghĩa mà còn phụ phàng, thiếu trách nhiệm.
Chị Nga lắc đầu, giọng
vừa thông cảm vừa chịu đựng:
-
Anh làm
sao biết được. Tôi đã nghĩ đó là số
mạng. Có đứa con để bớt cô đơn
quạnh quẽ thì cũng là phần thưởng của
trời thôi. Tôi không hờn trách anh chi hết. Có lẽ….vì….
Chị ấp úng, nín lặng, rồi
tiếp tục nói trong ngượng ngùng:
-
Có
lẽ…vì….lần đầu tiên trong đời…tôi biết
tình yêu thương là gì. Tôi đã được an ủi
nhiều lắm chớ không khổ đâu… Chỉ buồn
là khi con nó hỏi cha, tôi không biết nói sao cho ổn.
-
Nên nói
là cha nó theo vợ bé chớ gì?
Chú Tánh nói đùa để bầu không khí
bớt bi thảm. Chị Nga cũng cười theo. Tuy nhiên, dù đã buộc miệng
nói một câu vui chú Tánh không ngăn được sự
bối rối, khó chịu trong lòng. Bây giờ chú mới
biết người đàn bà mà chú tưởng chỉ
dễ mến còn rất can đảm, cao thượng và
lãng mạn. Chú hơi hổ thẹn
đã không nhìn được chiều sâu qua cái dạng
mộc mạc, chất phác bên ngoài của chị Nga. Chú
hối hận cho sự khô
khan của mình, đã không nhận ra tính lãng mạn nằm
trong hành động tự nhận là vợ một người
xa lạ với mục đích giải nguy người
ấy. Chú vẫn nghĩ đó là sự may mắn, rồi
hôm nay sự may mắn ngẫu nhiên đó đã
được tiếp nối bằng cuộc gặp
gỡ ngẫu nhiên với bé Duyên trên bãi bán thức ăn.
Chú có nên thản nhiên chờ đợi những ngẫu
nhiên khác trong cuộc đời nữa không? Suy nghĩ này
làm chú bứt rứt vì tính hời hợt của mình,
thấy phải đến lúc có một đắn đo
cân nhắc. Chú trầm ngâm giây lát rồi nói:
-
Nói
thật, tôi đi tìm em là để cảm ơn chuyện
cứu giúp ngày trước và để từ giã vĩnh
viễn. Chiều mai gia đình tôi sẽ lên máy bay….
Chị Nga nhìn thẳng vào mặt chú, vẻ
hốt hoảng hiện rõ trên đôi mắt.
-
Nhưng
mà….Bây giờ có lẽ tôi đang đứng trước
một ngả đường mới và cũng có lẽ
tôi phải dứt khoát có một quyết định
mới. Những năm tháng hạnh phúc êm đẹp
với vợ tôi đã từ lâu là một dĩ vãng xa xôi mà
tôi không còn mong gầy dựng trở lại
được, cái tương lai ở một xứ
văn minh có đủ mọi khêu gợi cho ham muốn
vật chất có thể sẽ là một đe dọa
trầm trọng hơn là một hứa hẹn tốt
đẹp cho đời sống vợ chồng tôi. Còn
hiện tại? Có phải chăng hôm nay tôi bắt gặp
được cái hiện tại mà tôi mơ ước? Ðó
là tình cảm thành thật, tự
nhiên giữa những người cần nương
tựa đùm bọc nhau. Nó là tấm tình từ lòng nhân ái
của em đã cho tôi, nó là tình thương của bậc
làm cha mẹ đối với món quà quý báu của
định mệnh đã dành cho chúng ta: bé Duyên!
Chị Nga nức nở:
-
Như
vậy là…..
Chú Tánh vuốt nhè nhẹ bàn tay run rẩy vì
xúc động của chị Nga.
-
Suốt
thời gian qua tôi chỉ biết đi kiếm sống và
tìm đủ cách để tránh sự cắn đắn
trong gia đình mà không bao giờ bận tâm là tôi đang
muốn gì, đang cần gì cho chính mình. Tôi cũng đã
quên tôi là ai, hằng có những hy vọng, mong đợi
gì. Trong giây phút này tôi nhận thức ra rằng, kể
từ ngày mai vợ con tôi không cần tôi nữa mà chính tôi
mới cần tôi, vì tôi đang đối diện với
những vấn đề bị bỏ quên đó, và….
Bé Duyên tắm xong đi ra thấy chú Tánh
vẫn còn ngồi nói chuyện với mẹ, nó mừng
rỡ kêu lên :
-
Bác
chưa về hả bác ? Bác ơi, bác ở lại
bữa nay đi. Lát nữa con hát cho bác nghe. Con lên sân
khấu trong trường hoài hè.
Chú Tánh kéo bé vào lòng, hôn nhẹ lên đôi
mắt mà chú đã thương ngay khi mới nhìn thấy,
rồi âu yếm hỏi :
-
Nếu
bác không phải chỉ ở lại bữa nay thôi mà ở
luôn, con vui không ? Con có chịu kêu bác bằng ba không ?