Hoa Nở Muộn

 

Vinh Lan

 

 

Một người đàn ông độ vừa hơn năm mươi tuổi đã đi tới đi lui không biết bao nhiêu lần trên con đường quanh co, có góc có cạnh, được chấp nối nhau bằng những miếng ván dài ngắn đủ khổ trong cái xóm nhỏ nằm gie ra bờ sông ở bến Tắm Ngựa. Bà già ngồi trước bệ cửa sát đường, cố tình lấy ánh sáng mặt trời chiếu xiên qua khoảng trống giữa hai nhà ngang đó để lượm sạn trong cái rổ gạo, lấy làm lạ vì cái nhìn dáo dác và vẻ mặt buồn rầu của người đàn ông, nên đợi đến khi người ấy đi qua lần nữa bèn cất tiếng hỏi:

-                     Chú muốn kiếm ai vậy?

Người đàn ông mừng rỡ được gợi chuyện, đứng lại ngay, rồi rụt rè hỏi bà già bằng một giọng hơi lo lắng:

-                     Tôi muốn kiếm nhà cô Nga. Cổ ở đâu khoảng nầy hồi mười năm trước, mà sao bây giờ thấy lạ quắc tôi tìm hoài không ra.

-                     Ờ, ở đây thay đổi nhiều lắm. Con Nga, tôi biết mà. Nó dọn nhà đi lâu rồi. Cũng chừng mười năm rồi đó.

-                     Dì có biết cô Nga đi đâu không? Mà tại sao cổ dọn đi vậy?

-                     Không biết. Tự nhiên nó đi, không nói cho ai hay hết.

Chú Tánh, tên người đàn ông, muốn về đây để kiếm người đàn bà đã cứu chú hồi mười năm về trước. Hồi đó chú muốn vượt biên. Cái xóm nhỏ có nhà cửa chen chúc lộn xộn, không ngay hàng thẳng lối với những con đường bắc ván ngoằn ngoèo ven bờ sông, là trạm gặp để dẫn người lén đi đến chỗ hẹn bằng đường nước. Rủi ro hôm đó xóm bị kiểm tra nên chú bị hạch hỏi lý lịch đang lúc ngồi trong một cái quán lá gần bến đò. Trong lúc chú lúng túng không tìm ra câu trả lời cho mạch lạc về vấn đề hộ khẩu thì bỗng có tiếng một người đàn bà:

-                     Ổng là ông xã của tôi đó.

Chú ngạc nhiên nhưng không dám day nhìn về hướng có tiếng nói mà vẫn cúi gầm mặt xuống đất.

-                     Sao tôi không thấy ổng ở đây?

Người đàn bà nói bằng một giọng buồn buồn như muốn khóc vì câu hỏi gợi đau khổ:

-                     Ổng theo vợ bé bỏ tôi cả chục năm nay. Không hiểu sao bữa nay về đây. Hồi sáng lảng vảng trước nhà mà tôi làm lơ nên ổng mắc cở rồi đi bậy.

-                     Ổng có hộ khẩu ở nhà chị không?

-                     Không. Tôi giận ổng nên xin bôi tên ổng lâu rồi. Thiệt tình tôi đâu có tính ổng trở về. Mà trở về để làm chi nữa? Tôi già rồi mà!  

Mấy tiếng cuối cùng chị hạ thấp giọng, nói lửng lơ, nửa như hờn dỗi nửa như tự than thân trách phận, mà cũng không thèm nhìn mặt ông chồng bội bạc làm anh cán bộ bật cười. Anh bỏ chú qua một bên, tới hỏi người khác.

-                     Thôi, đi về! Hay là muốn đi luôn nữa?

Nghe câu hỏi trỏng trong ý nghĩa giải thoát đó chú Tánh cảm động vô cùng, chú vội vàng đứng dậy, đáp với giọng xuôi xị:

-                     Về chớ còn đi đâu nữa.

Vô tới nhà rồi chú Tánh mới dám nhìn kỹ người đã cứu mình. Chú đoán chừng tuổi chị ba mươi lăm, đầu bới tóc, mặc áo bà ba màu xám lợt, dáng dấp hơi quê mùa trong cái áo may rộng hơn khổ người nhỏ nhắn của chị. Chị có nhan sắc không đáng được chú ý lắm, không có nét nào để gọi là đẹp, tuy vậy cũng không thể bảo là xấu, duy nụ cười - chị mỉm cười mời chú vào nhà - rất hiền hậu, có vẻ như lúc nào cũng sẵn sàng tha thứ làm chú Tánh thấy có cảm tình ngay. Chú ngồi bên cái bàn dài để ở giữa nhà, ngại ngần một chút rồi khen bằng câu hỏi:

-                     Sao cô lanh trí quá vậy?

-                     Cái cảnh xét hỏi nầy tôi gặp hoài. Thấy anh lọng cọng tôi biết liền là anh mới đi lần đầu. May cho anh là anh cán bộ nầy dễ dãi, chớ nếu không thì….

Chú Tánh thắc mắc:

-                     Tại sao cô muốn cứu tôi?

Chị cười, hơi ngập ngừng, rồi nói nho nhỏ:

-                     Không biết. Tự nhiên làm vậy. Có lẽ…tại vì chồng tôi đã bỏ tôi theo vợ bé thiệt. Mà…anh không giống chồng tôi, mặt anh hiền hơn nhiều…..Chắc tại vậy.

-                     Cho tôi biết tên cô được không?

-                     Ðược chớ. Tôi tên Nga.

Chú Tánh làm chồng hờ chị Nga vài hôm rồi lại đóng vai ông chồng có chứng “ngựa quen đường cũ”, tiếp tục chạy theo mấy bóng dáng đàn bà khác. Vài tháng sau chú trở lại, ở tạm nhà chị Nga một tuần để đợi kỳ lên đường kế tiếp. Nhưng rồi kế hoạch cũng lại bể. Chú thất vọng không thiết đến bữa cơm chiều chị Nga đã cố tình nấu nướng thịnh soạn để đãi từ biệt chú. Buổi tối, chú buồn bã ra ngồi ngoài sàn nước, thòng chân đong đưa trên mặt nước vừa dâng lên đúng tầm bàn chân chú. Trời tối âm u. Bên kia cù lao Rồng chỉ có một màu đen thẫm. Chú Tánh thở dài, càng âu sầu khi thấy cảnh vật thảm não không kém lòng mình.

Chú nhớ hai mươi năm về trước, vợ chú mượn cớ đi chợ để trốn nhà theo chú. Hành trang của cô ấy chỉ là bộ quần áo mặc trong người. Còn sự nghiệp của chú chỉ là cái căn nhà nửa lợp lá nửa lợp tôn ở khu nghèo Gia Ðịnh cùng với chiếc xe đạp làm phương tiện di chuyển. Lúc đó chú đang làm thư ký cho một nhà in ở Sàigòn, lương bổng đủ để khỏi bị đói. Hành động “trao thân gởi phận” đầy tin tưởng của vợ chú đã là tiếng nói của một tình yêu say đắm không màng dư luận, không sợ hãi trước một tương lai không có gì là sáng sủa, đã làm chú xúc động vô cùng. Chú thầm hứa sẽ bảo vệ gìn giữ tình yêu của hai người đến trọn đời.

Chú Tánh đang miên man nghĩ ngợi thì có tiếng động sau lưng. Chị Nga nhẹ nhàng đến ngồi kế bên chú. Chị cũng nhìn qua bên kia cù lao, hỏi nhỏ:

-                     Anh buồn lắm phải không?

Chú Tánh không đáp, chỉ gật đầu. Chị Nga tìm cách an ủi:

-                     Thôi thì anh rán đợi lần khác. Tôi biết có người bị nghẹn cả chục lần, có người còn bị ngồi tù nữa.

Chú lắc đầu:

-                     Không phải tôi buồn vì đi không được mà còn lý do khác. Ðúng hơn là tôi buồn vì tôi phải tính hoài chuyện ra đi.

Chị Nga day qua nhìn chú, ngạc nhiên:

-                     Tại sao vậy?

Chú Tánh cúi đầu thở ra. Chú im lặng, suy nghĩ không biết có nên tỏ tâm sự hay không. Giây lâu như ngại ngùng vì sự im lặng gây căng thẳng cái không khí thân tình nên chú nói:

-                     Từ khoảng mười năm trở lại đây, có lẽ đời sống xáo trộn của thành phố đã làm vợ tôi đổi tánh. Cô ấy không an phận như trước mà chỉ nhìn sang hàng xóm, nhất là những nhà có thân nhân ở nước ngoài. Tôi bị nghe thường xuyên câu hỏi “Tại sao mình không có…?” mà khả năng tôi không thể trả lời được. Cái khả năng của một người suốt ngày phải quây như cái chong chóng để xoay tiền thì không thể giải quyết thỏa đáng những vấn đề như máy karaôkê, máy điều hoà không khí….

Chú Tánh lại nín im như cố dằn sự cay đắng đang dâng lên theo lời kể, rồi lại trầm trầm nói tiếp:

-                     Tôi cũng có một đứa con đã đến Mỹ. Nó mới sang đó nên nếp sống chưa vững vàng. Vợ tôi sốt ruột, muốn chắc chắn hơn nên đề nghị tôi trốn đi. Thành thật mà nói, nếu liều mạng sống để kinh tế gia đình dồi dào ở tầm mức xa xỉ thì tôi không có một quyết tâm thật sự. Nhưng để không còn nghe bên tai những than van quá đáng, những phiền trách vô lý, những đòi hỏi ngoài tầm tay thì tôi lại quyết định ra đi…

Nghe xong tâm sự của chú Tánh, chị Nga cũng bùi ngùi tỏ thật về thân phận cô đơn của mình. Chồng chị làm nghề chạy xe đò, cái nghề đã cho anh mỗi bến, mỗi trạm một người tình. Anh đã được các bà vợ bạn hàng của các bến trạm săn sóc, chiều chuộng đến mức độ vợ nhà thành thừa thãi. Tuy anh biết họ có mục đích vụ lợi cho vấn đề vận chuyển hàng hoá nhưng anh thấy mình chẳng mất mát gì, nên phó mặc cuộc sống bềnh bồng trong những bàn tay phụ nữ. Rồi cuối cùng chẳng hiểu sao anh không trở về nữa.

Nghe giọng nói đằm thắm rất buồn của chị Nga chú Tánh cũng thấy nao nao trong lòng. Tự nhiên chú đưa tay qua ôm vai chị siết nhè nhẹ.

Trên đường về chú Tánh ghé vào bãi bán thức ăn ở một ngả tư không xa bến Tắm Ngựa bao nhiêu để ăn hủ tíếu. Cái bãi này đã có từ rất lâu rồi. Cứ đến bốn giờ chiều là người ta dọn hàng ra khoảng nền gạch rộng chừng năm thước nằm trước dãy tiệm đủ loại chạy dài hằng mấy mươi thước. Có đủ hình thức bán thức ăn, từ những xe đẩy có dạng gian hàng hẵn hòi với cả bàn ghế cho khách ngồi ăn như xe phở, xe hủ tíếu, xe bán nước sinh tố, chè sâm bổ lượng đến những gánh hàng ngồi dưới đất như tàu hủ, chè bắp, cơm rượu, bún ốc hay đơn sơ như những người chỉ có cái thúng, cái rổ để bán trái cây theo mùa, bánh tự làm hay đồ chơi rẻ tiền cho trẻ con nghèo.

Trời hãy còn sớm nên chú Tánh chưa muốn vội trở về Sàigòn. Nỗi buồn không gặp chị Nga để từ giã trước khi chú vĩnh viễn rời quê hương xứ sở vẫn còn đè nặng trong lòng nên chú trông có vẻ uể oải không muốn cất bước. Sau hơn mười  năm lo lắng, con chú đã hoàn tất bổn phận mẹ nó giao phó. Chiều mai là vợ chồng chú và đứa con gái còn lại, mà anh nó cũng cẩn thận tìm cho một vị hôn phu với đầy đủ giấy tờ hợp pháp, sẽ lên máy bay sang Mỹ để đoàn tụ gia đình . Trong những ngày cuối cùng, càng thấy vợ vui vẻ náo nức bao nhiêu thì chú lại càng nhớ đến hai lần đi hụt và người đàn bà cứu chú bấy nhiêu. Thời gian qua chú đã bỏ cuộc chuyện vượt biên mà dồn sức vào sự tranh đấu với mưu sinh. Chú đã thay đổi nhiều chỗ làm, thử nhiều công việc khác nhau, xoay xở đủ phương cách để cung cấp gia đình một đời sống vật chất tạm gọi là không “xấu mặt với hàng xóm” như yêu cầu của thím. Nghề cuối cùng của chú là chạy xe ôm, cái nghề có tên như đụng chạm luân lý nhưng thật ra rất đứng đắn đàng hoàng. Chú không cực khổ thân xác, nhưng dãi dầu mưa nắng, và giờ khắc làm nghỉ rất bất thường. Dù sao thì nó đã giúp chú giải quyết được vấn đề cơm áo.  Chú rời nhà từ sáng sớm, đến chiều tối mới về. Buổi trưa, nếu không có khách đi, chú ghé một quán nào đó nghỉ tạm. Chú mượn cớ phải thường xuyên kiếm mối mà tránh né sự gần gũi với thím. Ðó là điều đã khiến chú đau lòng hơn cả nỗi vất vả với miếng ăn. Thím lo cơm nước cho chú như một thói quen, một hành động phản xạ không cần suy nghĩ. Sự chăm sóc thật tình tứ của những năm còn trẻ hoàn toàn không còn nữa. Thím chẳng quan tâm tới những buồn vui của chú, coi như nó không liên can gì với mình, cũng chẳng để ý tới những cử chỉ tế nhị chú dành cho thím mà hồi nào đó thím đã sung sướng tiếp nhận. Giờ đây, đôi lúc thím còn thấy bực bội vì chú chu đáo một cách không cần thiết. Thím bận bịu nhiều với những phác họa mới cho tương lai ở một chân trời khác mà thím nghĩ rằng nó sẽ huy hoàng lắm. Chú đành chấp nhận nhịp sống đơn điệu buồn tẻ của hai người chỉ còn gần bên nhau trong danh nghĩa vợ chồng…

Càng nhớ đến tình trạng gia đình chú càng buồn, càng tiếc. Phải chi sự lợt lạt đó bắt nguồn từ sự trầm lặng theo tuổi tác hay từ sự lo lắng đổ dồn vào con cái thì chắc chú thương vợ nhiều hơn nữa. Chú có cảm tưởng sự chai lì hao mòn của tình cảm có nguyên nhân là thái độ buông trôi theo thời gian, là những ham muốn bất chợt và những tham vọng mới đến. Hạnh phúc có thật với “tình yêu trong mái lều tranh” như được tả trong tiểu thuyết của những năm đầu tiên trong đời sống vợ chồng là một hãnh diện của hai người. Thế mà bỗng chốc đời sống xã hội thay đổi đã mang tâm hồn con người đi theo một cách đột ngột. Tác động của ngoại cảnh ngoại vật mạnh mẽ thế hay tại vì cái bản ngã thứ hai của con người, trong bình yên thì ngủ im dưới tầng sâu thẳm của tiềm thức, đã phải đợi đúng lúc đúng cơ hội mới trỗi dậy? Chú không giải thích được.  Theo thời gian chú không muốn nghĩ ngợi nữa mà chỉ còn ôm ấp niềm đau không nói được về sự biến đổi tâm tánh của người mình đã từng rất yêu thương.

Thời gian còn ở trong khung cảnh sống quen thuộc không lâu nữa làm chú đâm ra tư lự, cứ hồi tưởng những kỷ niệm xa xưa, quanh quẩn trong đầu chú nhiều nhất là hai chuyến đi không thành và người đàn bà, tuy chú có cảm tưởng bị nụ cười ràng buộc ngay khi mới gặp, mà lại đã quên mất vì sinh kế và tâm sự buồn. Chú thấy ân hận về sự bạc bẻo của mình nên chợt nảy ra ý muốn đi thăm người ơn để gọi là trả lễ một chút tình nghĩa trong giờ phút cuối cùng.

-                     Bác ơi, bác mua giùm con một lon đậu phộng nấu đi.

Chú day lại nhìn một bé gái trạc chín mười tuổi, có cái chùm tóc sau ót cột nhổng cao như đuôi gà, trước trán để lòa xòa một màn tóc mỏng phủ tới chân mày. Ðôi mắt bé tròn, to, có cái nhìn thật ngây thơ, trong sáng. Chú Tánh tự nhiên thấy thương đôi mắt ấy. Chú mỉm cười hỏi:

-                     Con bán bao nhiêu một lon?

-                     Dạ năm trăm đồng.

-                     Bán cho bác một lon đi.

Bé cười thật tươi:

-                     Bác ơi, bữa nay sao con hên quá. Mời một cái là bác mua liền.

Chú Tánh thân mật hỏi:

-                     Bộ khó bán lắm sao?

-                     Dạ. Con phải năn nỉ nhiều lắm mà lâu lâu mới có người mua.  Con bị đuổi đi hoài.

Chú Tánh thấy bé có vẻ thông minh và ăn nói lễ độ nên cũng muốn trò chuyện với nó cho đỡ buồn.

-                     Con đi bán như vầy suốt ngày hay sao?

-                     Dạ không. Con chỉ đi bán buổi chiều thôi. Con phải đi học nữa chớ. Mà hôm nào có bài học nhiều má không cho đi.

-                     Thế con học khá không?

-                     Con là học sinh tiên tiến đó bác ơi.

-                     Giỏi quá vậy. Chắc ba má con cưng con lắm phải không?

-                     Dạ. Mà con có má không thôi hè. Ba không có ở nhà.

Chú Tánh nhìn bé dò xét. Ðột nhiên chú nghĩ đến những ông cha vượt biển mang hy vọng giải quyết tình cảnh nghèo đói khó khăn. Bé ngồi lên một cái ghế cạnh chú, có vẻ như quyến luyến ông khách dễ tánh. Nó tâm sự:

-                     Con không biết mặt ba con. Má con nói ba con theo vợ bé. Bác biết vợ bé ra sao không? Bộ bả đẹp lắm hả? Con hỏi mà má không chịu nói.

Chú Tánh bật cười nghe mấy câu hỏi ngây thơ của bé.

-                     Ừ. Thường thì vợ bé đẹp nên người ta mê. Có khi mấy bà vợ bé không đẹp nhưng mấy bả chăm sóc các ông khéo léo hơn chính vợ họ nên họ quên về nhà. Nói vậy chớ bác cũng không biết rõ, tại vì bác đâu có vợ bé.

Nói xong chú cười, xoa đầu bé. Bé như sung sướng được chú vuốt ve. Nó kéo ghế ngồi sát chú thêm chút nữa.

-                     Nãy giờ bác quên hỏi, con tên gì?

-                     Dạ con tên Duyên.

-                     À, con nói chuyện hoài không đi bán, làm sao con có tiền đem về cho má con?

-                     Nói chuyện với bác vui quá nên con quên. Mà cũng không sao. Má không rầy đâu, tại không phải ngày nào con cũng bán hết rổ đậu nầy.

-                     Con đong cho bác một lon nữa đi.

Bé Duyên hí hửng đong lon đậu nấu đổ vào cái bao bằng giấy báo xếp dán hai mí chéo vào nhau giống như hình cái quặng.

-                     Bác biết không, con được hai ngàn đồng rồi đó. Mai bác có lại đây ăn hủ tíếu nữa không?

-                     Không. Lát nữa bác sẽ về Sàigòn.

Duyên trố mắt:

-                     Ơ, vậy bác không phải ở Mỹ Tho à?

-                     Không.

Chú Tánh vừa đáp vừa coi đồng hồ tay. Trời đã tối nên chú phải đưa tay lên gần cây đèn ống gắn sát trên vành cái trần xe hủ tíếu để đọc số.

-                     Trễ rồi. Thôi bác đi. Bác tính về sớm hơn mà nói chuyện với con rồi bác quên mất thì giờ.

-                     Chết rồi. Con cũng phải về.

-                     Nhà con có xa không? Con dám đi một mình à?

-                     Dạ không xa. Thường thì con về trước khi trời tối. Bữa nay tối hồi nào con không hay. Chắc má trông lắm.

Chú Tánh nghe bé Duyên nói vậy thì đâm ra ái ngại.

-                     Thôi để bác đưa con về nhà rồi bác đi cũng không muộn.

Bé Duyên reo lên:

-                     Thiệt hả bác? Có bác má không rầy con ham chơi quên về. Thôi mình đi bác.

Bé Duyên có vẻ vui lắm được làm quen với chú Tánh, lại được chú đưa về nữa, nên nó vừa đi vừa nói chuyện không dứt. Nó kể đủ thứ về trường học, về mấy đứa bạn nhỏ cũng đi bán dạo như nó ở ngã tư. Chú Tánh cứ im lặng nghe, thỉnh thoảng cười theo nó. Chú thấy trong lòng nhẹ nhàng đôi chút. Từ hồi gặp bé Duyên chú không còn nhớ đến nỗi buồn không tìm được chị Nga mà cũng quên luôn hoàn cảnh gia đình của chú, nên chú không bận tâm lắm về chuyện trở về Sàigòn sớm hay muộn.

Bé dẫn chú đi vào một đường hẻm dọc theo bức tường căn phố cuối của dãy nhà gạch nằm trên đường cái, rồi quanh vào dãy nhà ván nằm song song đằng sau. Tới căn thứ hai nó dừng lại, chỉ vào:

-                     Bác ơi, nhà con đây nè. Má ơi má, con về rồi.

Từ trong buồng có tiếng người đàn bà vọng ra:

-                     Duyên đó hả con? Sao con về trễ vậy, làm má lo quá chừng. Má đang thay áo đặng đi đón con đó.

-                     Má ơi, có bác nầy dẫn con về. Má đâu cần phải lo.

Nghe con nói thế mẹ Duyên lật đật đi ra, rồi đứng nhìn sửng chú Tánh. Chú Tánh cũng bàng hoàng nhìn người đàn bà mới xuất hiện dưới ánh đèn.

-                     Cô Nga!

Chị Nga vẫn đứng yên không cử động mà nước mắt rưng rưng.

-                     Anh Tánh! Tôi đâu ngờ còn gặp lại anh.

Chú Tánh bùi ngùi nói, giọng không dấu được sự vui mừng:

-                     Tôi đi về xóm cũ tìm cô suốt ngày nay. Ðịnh ghé ngã tư ăn lót lòng rồi trở về Sàigòn, bất ngờ gặp bé Duyên. Tôi đâu dè nó là con của cô.

Chị Nga đã bình tĩnh lại, chị kéo ghế mời chú Tánh ngồi. Chị day qua Duyên, dịu dàng bảo:

-                     Con đi tắm đi. Má đã nấu nước sẵn cho con rồi.

Bé Duyên “dạ” rồi đi ra nhà sau. Nó không hiểu sao mẹ nó và chú Tánh quen nhau, nhưng thấy mẹ như muốn khóc khi gặp chú Tánh nên nó không dám hỏi mà cũng không dám đứng lại đó. Chú Tánh trầm trồ:

-                     Cô có đứa con dễ thương quá. Thấy nó rồi nghe nó nói chuyện tự nhiên tôi thương liền.

Chị Nga cúi đầu, hơi nhếch mép cười buồn. Chị cũng ngồi xuống ngang chú, im lặng. Chú cảm động, trìu mến nhìn chị Nga. Ngoài vài nếp nhăn ở đuôi mắt và dáng hơi gầy đi chị vẫn còn giữ phong cách như trước, điềm đạm, lặng lẽ với nụ cười đầy nét khoan thứ. Chú Tánh chợt thấy mình đang cần nụ cười ấy để xoa dịu sự ray rứt vì thái độ phụ ơn bội nghĩa của mình.

-                     Cô dọn đi bao lâu rồi? Tại sao cô dời nhà vậy?

Chị Nga do dự không muốn đáp. Chị có vẻ suy nghĩ nhiều làm chú Tánh thắc mắc. Chú đoán là phải có uẩn khúc gì để chị Nga không thể trả lời mấy câu hỏi tầm thường như vậy. Chị Nga đắn đo mãi, rồi cuối cùng chị nói, giọng run run:

-                     Tôi dọn đi từ mười năm nay. Lý do là vì ….tôi mang thai con Duyên. Tôi biết điều đó sau khi anh về Sàigòn hai tháng. Tôi có linh cảm là anh không bao giờ trở lại nữa.

Chú Tánh tưởng như trái tim mình sắp tung ra khỏi lồng ngực. Chú quay hẳn về phía chị Nga, đưa tay ra nắm lấy hai bàn tay của chị đang để trên bàn. Chú không nói được lời nào, cứ nhìn chị mà nước mắt chực trào ra. Trong lúc đó nước mắt chị Nga đã tuôn đầm đìa. Cả chú Tánh lẫn chị Nga đều không lường được kết quả của đêm tâm tình mà sự dâng tràn cảm xúc của hai kẻ cùng mang nỗi khổ đã đưa đến hành động an ủi nhau bằng ân ái.

-                     Tôi có lỗi với em nhiều quá. Chẳng những vô ơn bạc nghĩa mà còn phụ phàng, thiếu trách nhiệm.

Chị Nga lắc đầu, giọng vừa thông cảm vừa chịu đựng:

-                     Anh làm sao biết được. Tôi đã nghĩ đó là số mạng. Có đứa con để bớt cô đơn quạnh quẽ thì cũng là phần thưởng của trời thôi. Tôi không hờn trách anh chi hết. Có lẽ….vì….

Chị ấp úng, nín lặng, rồi tiếp tục nói trong ngượng ngùng:

-                     Có lẽ…vì….lần đầu tiên trong đời…tôi biết tình yêu thương là gì. Tôi đã được an ủi nhiều lắm chớ không khổ đâu… Chỉ buồn là khi con nó hỏi cha, tôi không biết nói sao cho ổn.

-                     Nên nói là cha nó theo vợ bé chớ gì?

Chú Tánh nói đùa để bầu không khí bớt bi thảm. Chị Nga cũng cười theo.  Tuy nhiên, dù đã buộc miệng nói một câu vui chú Tánh không ngăn được sự bối rối, khó chịu trong lòng. Bây giờ chú mới biết người đàn bà mà chú tưởng chỉ dễ mến còn rất can đảm, cao thượng và lãng mạn. Chú hơi  hổ thẹn đã không nhìn được chiều sâu qua cái dạng mộc mạc, chất phác bên ngoài của chị Nga. Chú hối hận cho sự  khô khan của mình, đã không nhận ra tính lãng mạn nằm trong hành động tự nhận là vợ một người xa lạ với mục đích giải nguy người ấy. Chú vẫn nghĩ đó là sự may mắn, rồi hôm nay sự may mắn ngẫu nhiên đó đã được tiếp nối bằng cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên với bé Duyên trên bãi bán thức ăn. Chú có nên thản nhiên chờ đợi những ngẫu nhiên khác trong cuộc đời nữa không? Suy nghĩ này làm chú bứt rứt vì tính hời hợt của mình, thấy phải đến lúc có một đắn đo cân nhắc. Chú trầm ngâm giây lát rồi nói:

-                     Nói thật, tôi đi tìm em là để cảm ơn chuyện cứu giúp ngày trước và để từ giã vĩnh viễn. Chiều mai gia đình tôi sẽ lên máy bay….

Chị Nga nhìn thẳng vào mặt chú, vẻ hốt hoảng hiện rõ trên đôi mắt.

-                     Nhưng mà….Bây giờ có lẽ tôi đang đứng trước một ngả đường mới và cũng có lẽ tôi phải dứt khoát có một quyết định mới. Những năm tháng hạnh phúc êm đẹp với vợ tôi đã từ lâu là một dĩ vãng xa xôi mà tôi không còn mong gầy dựng trở lại được, cái tương lai ở một xứ văn minh có đủ mọi khêu gợi cho ham muốn vật chất có thể sẽ là một đe dọa trầm trọng hơn là một hứa hẹn tốt đẹp cho đời sống vợ chồng tôi. Còn hiện tại? Có phải chăng hôm nay tôi bắt gặp được cái hiện tại mà tôi mơ ước? Ðó là tình cảm  thành thật, tự nhiên giữa những người cần nương tựa đùm bọc nhau. Nó là tấm tình từ lòng nhân ái của em đã cho tôi, nó là tình thương của bậc làm cha mẹ đối với món quà quý báu của định mệnh đã dành cho chúng ta: bé Duyên!

Chị Nga nức nở:

-                     Như vậy là…..

Chú Tánh vuốt nhè nhẹ bàn tay run rẩy vì xúc động của chị Nga.

-                     Suốt thời gian qua tôi chỉ biết đi kiếm sống và tìm đủ cách để tránh sự cắn đắn trong gia đình mà không bao giờ bận tâm là tôi đang muốn gì, đang cần gì cho chính mình. Tôi cũng đã quên tôi là ai, hằng có những hy vọng, mong đợi gì. Trong giây phút này tôi nhận thức ra rằng, kể từ ngày mai vợ con tôi không cần tôi nữa mà chính tôi mới cần tôi, vì tôi đang đối diện với những vấn đề bị bỏ quên đó, và….

Bé Duyên tắm xong đi ra thấy chú Tánh vẫn còn ngồi nói chuyện với mẹ, nó mừng rỡ kêu lên :

-                     Bác chưa về hả bác ? Bác ơi, bác ở lại bữa nay đi. Lát nữa con hát cho bác nghe. Con lên sân khấu trong trường hoài hè.

Chú Tánh kéo bé vào lòng, hôn nhẹ lên đôi mắt mà chú đã thương ngay khi mới nhìn thấy, rồi âu yếm hỏi :

-                     Nếu bác không phải chỉ ở lại bữa nay thôi mà ở luôn, con vui không ? Con có chịu kêu bác bằng ba không ?